MÀU TÍM TRONG THƠ CA

By Chủ bút: Võ Kim Ngân

              Trong thơ ca màu sắc được vận dụng như một cách phối màu để diễn tả tâm trạng phức tạp của tình cảm. Tuy nhiên những bài viết tìm hiểu và phân tích về mà sắc trong thơ ca chưa nhiều. " Màu tím trong thơ ca" của tác giả Huỳnh Văn Hoa là một trong những bài viết ít ỏi  về đề tài này. Tác giả đã công phu tìm tòi khảo sát  và phân tích cách sử dụng màu sắc trong thơ ca Việt Nam trong thơ ca trung đại đến thơ hiện đại. Từ đó phát hiện ra những vấn đề thú vị của sắc  tím trong thơ ca Việt Nam. Xin trân trọng giới thiệu.                               

           MÀU  TÍM  TRONG  THƠ  CA

                                                                                    HUỲNH  VĂN  HOA*

 

           Màu sắc là một phương diện của cái nhìn nghệ thuật trong văn chương làm nên thế giới nghệ thuật của một nghệ sĩ . Những nghệ sĩ có phong cách thường có kiểu sử dụng màu sắc theo một cách riêng làm nên nét dộc đáo của tác phẩm của tác giả.

        Bài viết này sẽ tìm đến nghệ thuật sử dụng màu tím trong thơ ca của số nhà thơ quen thuộc của Việt Nam.

        Về phương diện hội họa màu tím là sự pha trộn và hợp thành của màu xanh và màu đỏ. Tím là màu sắc thiên về các khía cạnh của nội tâm không thích phô trương tìm đến những ngõ ngách riêng tư của con người diễn đạt những khung trời nhớ nhung xa vắng lẫn khuất đâu đó là những hoài niệm hoài cảm.

         Màu tím của hoa sim hoa mua hoa bằng lăng hoa lục bình hoa xoan hoa súng …đã đi vào thơ ca với những sắc điệu riêng của tâm hồn với nhiều cách nhìn phong phú đa dạng độc đáo. Không ít bài thơ câu thơ đã nhờ màu tím mà tồn tại với thời gian.

        Màu tím là một gam màu ít được các nhà thơ cổ điển Việt Nam dùng.

        Trong Cung oán ngâm khúc Nguyễn Gia Thiều sử dụng có một lần màu tía ( Muôn hồng nghìn tía đua tươi ) ông không dùng màu tím.

        Chinh phụ ngâmtác phẩm do hương cống Đặng Trần Côn soạn nhân đầu đời Cảnh Hưng việc binh đao nổi dậy người đi chinh thú phải lìa nhà ông cảm thời thế mà làm ra “ ( Phan Huy Chú-Lịch triều hiến chương loại chí ) với 408 câu có màu xanh màu trắng màu vàng màu hồng và chỉ một lần nói đến màu tía ( Trước gió xuân vàng tía sánh nhau ) lấy tích từ “ cành Diêu đóa Ngụy hai giống hoa mẫu đơn quí một của họ Diêu màu vàng và một của họ Ngụy màu đỏ tía ( Những khúc ngâm chọn lọc NXB ĐH và THCN HN 1987 trang 55 ). Màu tía là màu đỏ thắm. Tía theo Đào Duy Anh là “ sắc đỏ thắm “ ( Tự điển Truyện Kiều trang 363 ). Đặng Trần Côn vẫn không đưa màu tím vào thơ.

         Trong Truyện Kiều với 3254 câu Nguyễn Du chưa một lần dùng đến màu tím.

         Những điểm nêu trên là điều khá lạ lùng về tư duy nghệ thuật của văn học trung đại về phát triển của ngôn ngữ tiếng Việt. Trái lại trong thơ hiện đại nhiều nhà thơ sử dụng khá quen thuộc màu tím thậm chí gắn liền tên tuổi của mình với sắc màu này.

                  Nguyễn Bính có nhiều bài thơ hay viết về Huế. Đó là những bài : Giời mưa ở Huế Vài nét Huế Xóm Ngự viên Thu rơi từng cánh. Tập Mười hai bến nước còn có số bài thơ  viết vào lúc thi sĩ ở Huế như Hoa với Rượu Xuân tha hương Lửa đò …

Trong số đó Màu tím Huế là bài thơ phản ánh nhiều cung bậc của Huế. Màu tím là màu có tính đặc trưng của Huế. Đây không phải là điều ngẫu nhiên. Huế vốn nằm gần với Trường Sơn. Về mặt tự nhiên nói như Xuân Diệu khi “ngày chưa dứt hẳn” thì bóng chiều đã bắt đầu buông xuống. Giao thoa giữa hai thứ ánh sáng ấy màu đỏ của hoàng hôn và màu sẩm của buổi chiều đã tạo nên sắc tím đặc biệt của xứ Huế. Không gian chiều của xứ Huế là không gian của màu tím nó không giống với bất cứ nơi nào trên nước ta vì thế người Huế yêu màu tím. Màu tím đi vào văn chương nghệ thuật của xứ thần kinh là vậy. Nguyễn Bính là người nhận ra nét tím của Huế:

                                  Thôi thế là em cách biệt rồi

                                  Đường đi mỗi bước một xa xôi

                                  Tim tím rừng chiều tim tím núi

                                  Tim tím chiều hôm tim tím mai

         Màu tím nhuộm núi rừng nhuộm chiều hôm nhuộm ban mai nhuộm nhớ mong nhuộm lên trang giấy tình thư nhuộm lên nét thương đau của nhớ nhung của cát bụi kiếp người.

         Hai câu kết vẫn màu tím ấy cả rừng cả núi cả chiều hôm tím một màu tím Huế rất Nguyễn Bính..                                               

         Hữu Loan nổi tiếng với bài thơ Màu tím hoa sim. Bài thơ đứng vững hơn nửa thế kỷ trở thành một trong những bài thơ tình hay nhất trong thơ ca Việt Nam hiện đại. Màu tím hoa sim là tiếng lòng của anh Vệ quốc quân đối với cái chết của người vợ trẻ. Nguyên mẫu cuộc đời đã trở thành nhân vật nghệ thuật thành thơ ca thành âm nhạc. Có thể nói không ngoa rằng nếu bài thơ ấy tác giả không chọn gam màu chủ đạo là màu tím thì chắc gì đem lại sự rung cảm trong tâm hồn tác giả và người đọc.

         Quả vậy từ chỗ:

                                   Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím

                                   Áo nàng màu tím hoa sim

Cho đến những chiều mưa trên chiến trường Đông Bắc nơi ba người anh “ biết tin em gái mất trước tin em lấy chồng” và “ đứa em nhỏ lớn lên ngỡ ngàng nhìn ảnh chị “ với  gió sớm thu về gờn gợn nước sông  với “ cỏ vàng chân mộ chí ” … là bao nỗi niềm thương nhớ khôn nguôi của người chiến sĩ-thi sĩ :

                                   Chiều hành quân

                                   Qua những đồi sim

                                   Những đồi sim dài trong chiều không hết

                                   Màu tím hoa sim

                                   Tím chiều hoang biền biệt

                                   Nhìn áo rách vai

                                   Tôi hát trong màu hoa…

          Kiên Giang với bài thơ dài Hoa trắng thôi cài trên áo tím 15 khổ được nhiều người đọc yêu thích. Bài thơ kể về mối tình học trò. Ngày trước ngôi trường người con trai theo học đối diện với ngôi giáo đường của người con gái thường đi lễ nhà thờ. Chuông nhạc đạo và chuông nhà trường hòa lẫn khiến người con trai “làm thơ sầu mộng” thầm muốn  để nghe khe khẽ lời em nguyện-thơ thẩn chờ em trước thánh đường”:

                                    Mười năm trước em còn đi học

                                   Áo tím điểm tô đời nữ sinh

                                   Hoa trắng cài duyên trên áo tím

                                   Em là cô gái tuổi băng trinh…

                                    Mỗi lần tan lễ hồi chuông đổ

                                   Hai bóng cùng đi một lối về

                                   E lệ em cầu kinh nho nhỏ

                                   Thẹn thùng anh đứng lại không đi…

        Thế rồi một ngày kia em theo chồng :“ Rộn rã từng hồi chuông xóm đạo Tiễn nàng áo tím  bước vu quy. Dầu vậy người con trai của mười năm trước : “ Anh vẫn yêu em người áo tím Nên tình thơ ủ kín trong lòng. Chiến tranh loạn lac tình thơ cũng nhạt màu nhưng than ôi cũng chiếc xe hoa ngày ấy:

                                   Ba năm sau chiếc xe hoa cũ

                                   Chở áo tím về trong áo quan

                                   Chuông đạo ngân vang hồi vĩnh biệt

                                   Khi anh ngồi kết vòng hoa tang…

         Vòng hoa trắng lạnh đó gửi cho người con gái áo tím với ân tình ngày cũ dù đã phôi pha nhưng trắng trong tinh khiết đẹp như một bài thơ buồn.

         Kiên Giang là bạn thơ của Nguyễn Binh trong những năm kháng chiến chống Pháp tại Nam Bộ. Trong nhiều bài thơ của ông người đời nhớ và yêu nhất bài thơ dung dị này.                   Cũng màu tím ấy vậy mà với cái nhìn cá thể một nhà thơ đã để lại trong gia tài văn chương dân tộc những bài thơ độc đáo lưu giữ mãi với thời gian. Đó là Chế Lan Viên .

         Cả tập Điêu tàn màu sắc chủ đạo vẫn là màu trắng và màu đen. Điều này có lý do của nó về quan niệm thẩm mỹ. Sau Cách mạng tháng Tám như nhà thơ đã nhiều lần phát biểu ông đã đi từ “ chân trời một người đến với chân trời tất cả “ đi từ “ câu hỏi hư vô thổi nghìn nến tắt ” để đến “ bàn tay người thắp lại triệu chồi xanh “. Bên cạnh một Chế Lan Viên triết luận bàn về những vấn đề nóng hổi của thời đại và dân tộc còn là một Chế Lan Viên của đời thường của tâm hồn dân dã gắn chặt với máu thịt cuộc sống. Màu sắc trong thơ ông là một con đường riêng riêng mà lại chẳng riêng chút nào gây xúc động lòng người một cách sâu lắng. Chế Lan Viên hay nói đến màu tím đó là màu hoa của Hồ Tây mà nhiều lần thi sĩ tìm đến. Trong bài Hoa súng tím Chế Lan Viên viết:

                                                Từ lúc mê súng tím

                                                 Mới hiểu hết sen hồng

                                                 Càng biết yêu mùa hạ                                                                                                             Dâng màu sắc song song

            Vẫn là cách so sánh của lòng yêu hoa mê hoa. “ Mê súng tím “ tức là yêu  một loài hoa bình dị không kiêu sa lặng lẽ nơi ao đầm quê ta. Tháng năm qua loài hoa gắn với làng quê Việt ấy trong một lần bừng thức lòng hiểu thêm sen hồng cũng một loài hoa thôn dã “ gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn “ hai thứ hoa có chung một tấm lòng một trắng trong dâng hiến cho đời. Chẳng thế mà nhà thơ mới viết: Dâng sắc màu song song một cách trang trọng thâm tình. Yêu hoa để yêu đời hiểu hoa để hiểu đời là vậy !

            Cũng tên là Hoa súng tím  viết vào thời điểm của cơn đau thì lại thê thiết hơn. Bài thơ này in trong tập Hoa trên đá NXB Văn học 1884 trước lúc mất vài năm:

                                               Mỗi lần đau anh lại đến Tây Hồ

                                               Chữa lành anh là hoa súng tím

            Hồ đầy hoa nhụy vàng hương kín vậy mà “ cả một mùa qua hoa nở chả ai hay … ngoài chú vịt trời xao xuyến “ . Không sao còn có nhà thơ yêu hoa “suốt cả một ngày lưu luyến”  bên hoa. Bài thơ như một tâm sự như một giãi bày muốn tìm tri âm chia sẻ. Dường như là vào những năm cuối đời qua bao nỗi thăng trầm của thế sự qua bao biến chuyển của cuộc đời Chế Lan Viên nhận ra rằng nhiều cái bình dị quanh ta ta bỏ quên như hoa súng tím khiêm nhường kia :

                                              Hoa súng tím An Giang hoa súng trắng Tây Hồ

                                  Những cành hoa chưa ai làm thơ cả 

                                  Tuổi 64 tôi mới biết màu hoa dân dã

                                  Biết hoa rồi tôi đã sáu mươi tư .

                                                  ( Hoa súng An Giang )

            Một chỗ khác trước khi mất hai năm như để cho người đời sau hiểu thêm mình hiểu thêm những nỗi niềm sâu kín riêng tư của mình cũng là sự mong đợi gửi gắm nhà thơ viết :

                                             Màu hoa súng ấy như cơn đau không dám khóc

                                             Chỉ lặng im sắc tím để mà đau                 

                                           Người ta chỉ biết màu sen anh đỏ rực

                                             Còn nỗi buồn hoa súng tím biết cho đâu .

                                                              ( Hoa súng 1887 )

            Xét đến cùng cái màu tím kia trong những bài thơ ngắn của Chế Lan Viên là một góc khuất hết sức nhân văn tìm về sự yên tĩnh của tâm hồn sau bao sóng gió của cuộc đời cập đến bến bờ của thức ngộ. Dường như là đằng sau của  nỗi buồn hoa súng tím “ ấy Chế Lan Viên muốn gửi gắm cho đời một thông điệp rằng bên cạnh một Chế Lan Viên chính luận còn một mặt nữa của tháp Bayon mặt ấy - nhà thơ đau đáu bao nỗi niềm bao tâm sự cả những điều chưa biết giãi bày cùng ai ! Có lúc cũng ngậm ngùi khôn xiết !  

            Cao Vũ Huy Miên có bài thơ Hoa tím ngày xưa được Hữu Xuân phổ nhạc nhiều ca sĩ hát và công chúng yêu thích. Đây là bài thơ tình nói về con đường của người bạn gái trong tuổi học trò thường đi về làm nên cảm xúc thơ ca cho chàng trai:

                                              Con đường em về ban trưa

                                              Hoa tím nghiêng nghiêng đợi chờ

                                              Tuổi em vừa tròn mười bảy

                                              Tóc em vừa chấm ngang vai.

            Cũng con đường đó em về mưa bay em về thơm hương tiếng dương cầm rơi nơi đâu lặng lẽ. Và rồi tuổi 17  của em qua đi qua đi chẳng biết bao giờ để rồi :

                                              Trường xưa chẳng còn học nữa…

                                              Con đường em về năm xưa

                                               Có biết hay chăng bây giờ

                                               Hoa tím thôi không còn nữa

                                               Chỉ còn ta đứng dưới mưa.

            Bài thơ ngắn dung dị dễ thương của một thời vụng dại. Chắc là hoa tím vẫn còn nơi con đường ngày cũ chỉ có điều con đường xưa ấy người của một thời không qua nữa nên  hoa tím thôi không còn nữa chỉ còn  ta đứng dưới mưa“. 

            Nguyễn Sĩ Đại có bài thơ Mực tím viết theo thể thơ lục bát cũng là một bài thơ đáng yêu viết cho tuổi học trò ở thời điểm sắp rời ghế nhà trường phổ thông:

                                               Bây giờ mực tím thôi vương

                                        Mùa thi đã vãn sân trường vắng hiu 

                                               Tiếng ve kêu sốt nắng chiều

                                        Cuốn  lưu niệm cũ chữ xiêu xiêu buồn…

 

                                               Bây giờ mực tím thôi vương

                                       “ Bậu về xứ bậu” lời thương không đành

                                               Bây giờ …

                                                           Thôi xếp áo khăn

                                      Gửi hồn mực tím trên cành bằng lăng .

            Bài thơ ngắn chỉ 8 câu có hai lần nói đến “mực tím thôi vương” và ba lần nhấn mạnh đến “bây giờ”. Mỗi lần mỗi khác. Lần sau mượn câu ca dao : “Rồi mùa tóoc rã rơm khô/ Bậu về xứ bậu biết nơi mô mà tìm” để bày tỏ nỗi niềm nuối tiếc bâng khuâng Tuổi học trò thời nào mà không có những phút giây xao xuyến ấy !

            Màu tím vương vương nơi nhiều bài thơ. Đoàn Phú Tứ có : Màu thời gian không xanh/ Màu thời gian tím ngát ( Màu thời gian ) Anh Thơ trong Chiều xuân đã viết: Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng/ Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời .Tố Hữu với bài thơ Hoa tím tặng Nguyễn Tuân có câu: Thủy chung tình bạn chùm hoa tím. Hoàng Phủ Ngọc Tường với Dù năm dù tháng được Nguyễn Công Dinh phổ nhạc với tên Cành phù dung cho em có những câu:

                                                Anh ngắt cành phù dung trắng

                                                Tặng em niềm vui cầm tay

                                                Màu hoa như màu tia nắng

                                                Buổi chiều chợt tím không hay…

            Phan Vũ trong Em ơi ! Hà Nội phố Phú Quang phổ nhạc là một Hà Nội của mùi hoàng lan mùi hoa sữa của “chiếc khăn quàng tím đỏ thoáng qua” của những “con đường vắng rì rào cơn mưa nhỏ” của “tan lễ chiều kinh cầu còn mãi ngân nga” và nữa:                  Ta còn em cô hàng hoa

                                                Gánh mùa thu qua cổng chợ

                                                Những chùm hoa tím

                                                Ngát mùa thu…

            Hoàng Nhuận Cầm cũng có những câu thơ hay về mùa thu và hoa tím:

                                                Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến

                                                Chỉ tiếc mùa thu vừa mới đi rồi

                                                Còn sót lại trên bàn bông cúc tím

                                                Bốn cánh tàn ba cánh sắp sửa rơi !

                                                           ( Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến )

            Hữu Thỉnh với Biển nỗi nhớ và em có câu thơ thật hay:

                                                Em đâu phải là chiều

                                                Mà nhuộm anh đến tím…

            Ngô Văn Phú với Trời đã vào thu… khi sông không đầy nước khi mây làm khăn quàng qua vai núi thì cũng là lúc:

                                           Đôi bờ lau lách đìu hiu tím                                               

                                          Gom buồn lên ngọn gió heo may…

            Có thể kể ra nhiều bài thơ câu thơ có chứa màu tím. Cái màu tím ấy đã đem lại cho thơ ca tiếng Việt một sắc thái riêng một nẻo về riêng của tâm hồn với  bao xao xuyến bao tâm trạng  nơi người đọc góp phần làm nên những tác phẩm hay trong văn chương Việt Nam.

             Đà Nẵng tháng 10 – 2009    

 

More...

Thơ Đặng Ngọc Khoa

By Chủ bút: Võ Kim Ngân


  Xin giới thiệu một số bài thơ của nhà thơ Đặng Ngọc Khoa.

 

Nhớ Mẹ



 

Ngày Tết
đi qua hàng trầu cau
bỗng nhớ
Mẹ ta xưa ăn trầu môi đỏ
Cái cối xay
Cái ông bình vôi
Còn hằn dấu vân ngón cái

           

 

Một trăm năm
Một nghìn năm
Con không còn mẹ
Trên cánh đồng mồ côi
Chỉ cánh cò lẻ loi
Phơ phơ mây trắng góc trời...

 

Chiều mồng Hai
Con một mình về quê
Tay cầm miếng trầu
lặng lẽ
Biết tìm đâu
đôi bàn tay mẹ
Đặt lên
chữ hiếu

muộn màng!

 

     Mồng Hai Tết Mậu Tý 08

 

 

Vết Thương

 

Trở trời mẹ xuôi thành phố
Áp ngực rọi vết thương xưa
Đã bao năm bờ vai mẹ
Mang mảnh đạn dáng răng cưa

 

Lặng nhìn cái mảnh đạn trắng
Cựa mình trong tấm phim đen
“Trước sau cũng tan vào đất...”
Mẹ cười như gặp người quen

 

Lớn khôn giữa đời tôi ngỡ
Đã lụi tàn lửa chiến tranh
Chẳng hay trong da thịt mẹ
Vết thương xưa vẫn đồng hành

 

 
Ngày Của Mẹ

  Những ý nghĩ rời trong Ngày của Mẹ của tôi...

 
Bạn bè ngày cũ xa dần
Bạn mới chưa thấu hiểu
Con nhắn tin mời
Chỉ gặp nỗi trống không

 
“Trách chi! Trách chi!...”
Nhớ lời Mẹ dặn
Con đâu dám nghĩ gì
Đương đại
cuốn người đi như thác
Đề - mốt những sẻ chia

Đám giỗ không trùng chủ nhật
Cô đơn ngày
               Cô đơn con
Bộc lộ mình trên mạng
Không gian ảo
               Thế giới ảo
Hy vọng Mẹ đọc được những dòng này

 
Nhớ mãi
bản tin ngày nào
con viết
Mẹ không còn để đọc
Trong khung cáo phó
Mẹ ơi!

 

Như Mây

 

Mẹ như mây
trắng cuối trời
Con chạy lúp xúp
Cút côi cánh đồng

Làm sao
đi hết mênh mông
Làm sao
đi hết tấm lòng Mẹ tôi...

 

 

Tấm thảm bay

 

Tấm thảm ấy xôn xao ban mai

  tiếng chim hót xanh cơn mơ dài

  có cánh gió thơm nồng vị biển

  mắt em cười sáng những tàn phai

  mắt em cười vỡ một trời sao

  lúm đồng tiền nghiêng tim phương nào?

  buổi em về trong đêm lấp lánh

  tôi một lần trải dài hiu quạnh

  tôi một lần bay trong mắt em

  để một thời thương búp tay mềm

  chừ quay về như tên lưu lạc

  vắng em rồi tôi đứng với đêm

  biết đâu tìm ánh mắt xa xôi

  biết đâu tìm mái tóc trăng ngời

  biết đâu tìm thuở em mười tám

 chợt thương mình tôi nắm tay tôi

  tình yêu tôi như tấm thảm bay

  biển và rừng cao bé tựa bàn tay

  đời tôi đấy một lần đọng lại

  Em đâu rồi?

  ta bay bay bay…

 

 28/3/1990

 

 

 

 

 

Đa Mang

         

Đừng khóc nữa em anh về xa
Gối đầu trên cỏ nghĩ quê nhà
Làng anh mọc dưới ngôi sao ấy
Em có bao giờ ngóng sao sa?

Đừng khóc nữa em anh nằm đau
Lá úa vàng chân gió bạc đầu
Trái tim chầm chậm buồn khản tiếng
Chim khách chết rồi em ở đâu?

Đừng khóc nữa em đã tà huy
Lòng trời vòi vói (*) gió biệt ly
Thổi ngược hồn anh bầm ký ức
Huyễn hoặc trăng chiều em vu quy...

Đừng khóc nữa em sóng thời gian
Hóa thạch nghìn năm máu dã tràng
Ngọc của đời nhau vùi xanh cát
Có bao giờ bừng hoa vông vang?

Đừng khóc nữa em những ngày sau
Mé biển rừng đêm những toa tàu
Đa mang yêu dấu đa mang nhớ
Có trọn đời ta đa mang nhau? (**)

Đừng khóc nữa em những chiều xa
Tay ghì tím cỏ níu sao sa
Vết xước của trời
                                     hồn anh đấy

Em
                  sẽ bao giờ em bước qua?...

Đà Nẵng -  Sài Gòn 1991.

--------------------

Chú thích: Bài này còn có mấy mấy phụ bản như sau:

(*)Đau nhói 

(**) Còn có bao giờ đa mang nhau?

Theo bản cũ của Đặng Ngọc Khoa gửi nhà thơ Đông Trình năm 1991 trước khi anh hành phương Nam Nguyễn Hữu Hồng Minh nhớ lại)

 

Đêm           

Đêm cướp mất em
Ta một mình với bóng
Tin thơ thả lên trời
Trăng thượng huyền ai ngóng?


Em bao ngày biển động
Ta một đời long đong
Tàu chậm chạy song song
Biết bao giờ gặp?

 

 

Nhớ Surin

         

Yêu em anh như trẻ thơ
Chuyện nhỏ thôi đã hờn đã giận
Em xa xôi lòng anh trĩu nặng
Em nói đùa mà tim anh đau...

 

Những ngày xa rời rạc câu thơ
Anh nhớ em mọi nơi mọi lúc
Cả khi anh bên ngoài phàm tục
Vẫn không ngoài nỗi thương em.

 

Nhớ mắt em cười nhớ môi em hát
Nhớ dáng em ngồi nhớ bước em đi
Nhớ gót em đau anh loay hoay thuốc
Nhớ bữa em về không nói năng chi.

 

Anh yêu em mà sao cách xa
Tin nhắn hiện hình mà em vời vợi
Điện thoại thăm nhau nói năng vồi vội
Những lúc hết ngày trời sắp sang đêm.

 

Này người dưng yêu dấu của anh
Sao không thích hát lời anh hát?
Sao em chợt đôi khi lạnh nhạt
Giữa đám đông lặng lẽ bè trầm?

 

Ngày dần qua và đêm sẽ trôi
Em chẳng riêng anh niềm âu yếm
Như nắng chiều anh hoài bịn rịn
Ánh sáng một thời đã xa?

 

Đã đôi lần anh nổi cơn điên
Xóa tất cả đa mang tất cả
Sẽ trong em anh thành người xa lạ
Lang thang tìm chốn bình yên.

 

Đã đôi khi anh muốn bão giông
Cuốn em về phương trời khác
Anh đánh đàn và em ngồi hát
Thiên hạ buồn đua nhau làm thơ.

 

Anh yêu em yêu em yêu em!
Trong mơ một mình thầm thì anh nói
Anh tự đốt mình thành khói
Tàn tro bay lả tả hồn.

 

 

Mộng du buồn chỉ một cơn mơ
Chập chùng quãng đời anh còn lại
Phía không em anh nhìn xa ngái
Giọt lệ nào rớt phía không anh?...
 

 

 

Thoát Bão

         

Như ngọn gió đơn độc
Thoát khỏi tâm bão
Anh lang thang
Dưới trời đêm
Kiệt sức

Đến giờ
Lệ còn ứa mắt ai

Làm sao thoát
Cám dỗ ngôi nhà xây dở
Đổ sập trong xoáy lốc
Mất hút
Mất hút em...

Làm sao thoát
Những cơn đau
Không màu
Không vị
Những trường gió
Nhiệt đới nóng
Nghịch chiều

Cũng chẳng dễ thoát
Những cơn mơ ngoài cơn mơ

Những cơn bão ngoài cơn bão
Ngổn ngang
Làm sao anh thoát khỏi chính mình

 

Thoát bão
Ừ thì thoát bão
Cuồn cuộn
Quay về

Anh nhặt nhạnh chính anh...

 

 

Cho Một Ngày Buồn

 

 

Anh cô đơn
như một cột buồm
kiêu hãnh
Trong lặng im
biển gầm gào điên loạn

những luồng gió táp mặt người mặt sóng
bãi bờ xa tít khói bếp quạnh hiu

Nơi ấy ngọn lửa vợ anh vừa nhen
đột ngột dập tắt bởi dòng tin trắng
Nơi ấy mẹ anh chặm nước mắt
rớt rơi chấp chới ngắn dài

Nơi ấy những khúc nhân tình
tên anh không còn đọc thấy
Những câu thơ
mảnh
sắc
lầm lì
cứa vào cơn mơ góa bụa

Nơi ấy mùa thiếu nữ vời vợi
năm cửa ô mưa bụi
đêm Hà Nội chòng chành trở gió
câu thơ rét run túi áo
viên kẹo nào ấm môi con...

Như một cột buồm anh quá cô đơn
ngước nhìn bầu trời vòm trời tối sẫm
đâu tiếng kêu vang vọng ngực chiều
đâu âm ba người đi ngược sóng

chỉ miên man biển dài khắc khoải
xoáy lốc cuồng phong đuổi nhau xô lệch
những áng mây rỉ buồn câu hát cũ
những dố khoan cũng liên hồi cũ
chỉ còn tiếng kèn đồng trong ký ức
rền vang trang thơ cũ
báo động mới toanh
về một ngày buồn...

  

Như Cây

 

Chỉ vài hôm nữa miền Trung không bão cũng mưa dầm gió giật.
Cây cối rồi sẽ ngã nghiêng tơi tả.
Tôi có lần nhìn một cái cây bị gió bão vặn ngược.
Đâu ngờ có khi mình cũng như cây ấy
Chí ít trong thơ Hermann Hesse.

Cũng như ngươi
Ta bị cuộc đời vùi dập
Nhưng không gục ngã
Hằng ngày vẫn vươn mình
Ngẩng cao trong ánh mặt trời...
Tấm lòng ta mềm mại tinh khôi
Đã chết vì cuộc đời thô bạo
Nhưng tính cách ta vẫn không đổi
Ta vẫn vui lòng ta vẫn tha thứ
Vẫn cho đời những chiếc lá xanh tươi
Vẫn cho nứt hàng trăm chồi non mới.
Dù bị đau đớn quằn quại
Ta vẫn yêu thương trần gian điên dại này.
Hermann Hesse 

 

 

Quay Quắt Cà Mau

 

               Tặng anh Tô Thành Nhân - Cà Mau

Nơi ấy dấu chân tôi có còn in trên bờ kênh xáng
Mùi bùn thơm rủ rỉ gọi nhau về
Cà Mau Cà Mau
Gió chướng chạy rần rần khung trời xanh tái
Tôi căng mắt căng thân giấc mơ vỏ lãi
Vút chim bay chạm sóng Gành Hào

Chôn chân bên cầu thơm dưa hấu
Em chợ đời ám chướng u mê
Tôi trôi tôi chiều trôi cổ tích
An Tiêm thương một gã bên lề

Cà Mau Cà Mau
Đêm không ngủ bởi Cà Mau không ngủ
Khát sống như tôi cũng đến thế thôi mà
Nơi con cá quẫy vầng trăng cuối bãi
Em lang thang và tôi hoang mang

Có ai về đốt đuốc mùa sang
Ánh chớp đầu tiên hy vọng cũ càng
Hai con cá thích nghi
Chết đuối ngày đáy vũng
Tuổi trẻ bao lăm vèo gió rụng
Lắng đất trở mình nghe khát khao thương

Đêm tối trời
kinh Nguyễn Văn Tiếp
Điên điển vàng ươm nồi cháo cua đồng
Niềm vui nở bên ngoài trái đất
Vỏ lải trượt chiếc quan tài độc mộc
Tôi suýt thành ma đi hoang

Tôi say khướt môi em mềm mướt
Chợt dịu dàng thảo khấu đôi tay
Những phận người khốn cùng thế giới
Thương nhau lang bạt giang hồ
Em bắt hụt bóng tôi giữa chợ
Năm Căn rùng rùng cá tôm bay

Chợt một ngày tôi xa biền biệt
Ký ức hằn những dấu chân khô
Cà Mau Cà Mau
Đừng quay quắt đừng yêu thương nhé
Mười mấy năm dài
Sóng Gành Hào còn dội ướt cơn mơ...

 

(Bài này post lên theo yêu cầu của anh Thuận Nghĩa)

 

 

 

 

More...

Khoa đi rồi !- Bài viết của anh Nguyễn Đình Xê-Đăng báo Người lao động ngày 3/12/2009

By Chủ bút: Võ Kim Ngân

Khoa đi rồi

“Đặng Ngọc Khoa đã được đưa về nhà khó cầm cự nổi qua đêm nay và sáng mai. Xin báo để bạn bè biết...”. Từ Đà Nẵng tin này đến với chúng tôi giữa khuya hôm Sài Gòn bận rộn với đủ dòng thời sự cuối ngày.

Cảm xúc xót thương một đồng nghiệp một cộng tác viên hết mình với nghiệp dĩ một người bạn thân tình bộc trực nghĩa khí có lúc bị lấn át bởi cái tất bật nghề nghiệp vào giờ cao điểm.

Chưa kịp tĩnh tâm để nghĩ về chuyến đi cuối cùng của bạn thì chiều qua 2-12 điện thoại lại nhói lên bản tin  thảng thốt: “Đặng Ngọc Khoa đã qua đời lúc 15 giờ 40 tại Đà Nẵng...”.


Vậy là Khoa đi rồi sau những ngày chống chọi trong tuyệt vọng với căn bệnh hiểm ác. Chuyến đi cuối cùng của một tâm hồn lạc quan thêm một lần nhắc nhở nỗi bất lực của con người trước định mệnh khắc nghiệt: Có thể vượt qua đủ thứ đắng cay chua xót của đời người bằng bản lĩnh nghị lực và niềm tin vào sự huyền diệu của cuộc sống nhưng con người không thể thắng được sự lạnh lùng của cái chết.


Khoa đi rồi thời sự bão lụt vắng một cây bút luôn đau đáu với nỗi khổ của dân mình trước thiên tai hằng năm rình rập luôn tìm cách gõ vào mọi cánh cửa thông tin để cung cấp càng sớm càng tốt càng chi tiết bao nhiêu càng góp phần giảm thiệt hại bấy nhiêu về diễn biến của mưa bão lụt lội.

Không thấy Khoa trong những tin báo về cơn bão số 11 và trận lụt dữ vừa rồi ở miền Trung nhiều người đã linh cảm chuyện chẳng lành. Đó là những ngày chàng lãng tử tóc dài trở bệnh nặng.

Chỉ những cơn đau liên hồi mới đủ sức ngăn cản Khoa ngồi trước trang viết bởi trước đó không lâu những bài báo ký tên anh vẫn đều đặn xuất hiện. Viết như chạy đua với định mệnh khắc nghiệt như thể Khoa biết mình chỉ được phép trò chuyện với cuộc đời chẳng bao lâu nữa.


Khoa đi rồi mái tóc bồng bềnh ánh mắt hóm hỉnh miệng cười hồn hậu giọng nói oang oang chân chất Quảng Nam của một đồng nghiệp lăn xả hết mình  cũng theo về với cát bụi. Những bạn bè đồng môn của Khoa ở Trường THPT Phan Chu Trinh Đà Nẵng mất đi một cái kho lưu giữ kỷ niệm thời học trò (Khoa vẫn nhớ và đọc lại vanh vách từng câu thơ của bạn mình  in trên đặc san trường hằng 35 năm trước).

Vắng thật rồi những câu thơ ứng khẩu tài tình và độc đáo của Khoa trong những buổi sinh hoạt cộng đồng những chuyến dã ngoại về với buôn làng trung du. Vắng thật rồi khát vọng của một Tấm thảm bay (tên một bài thơ của Khoa) mang đến đời này những điều tốt đẹp. Ở cõi xa xăm mà Khoa vừa tìm về ai đó sẽ hát lên cùng Khoa câu thơ của một thời mộng mị “Em cùng ta bay bay bay bay...”

Nguyễn Đình Xê
 

g

More...

Chia buồn cùng gia đình anh Đặng Ngọc Khoa !

By Chủ bút: Võ Kim Ngân

 

 Đặng Ngọc Khoa đã ra đi  !

 

         Nhà báo ĐẶNG NGỌC KHOA phóng viên báo Thanh niên Hội viên Hội nhà báo Việt Nam Hội viên Hội nhà văn TP Đà Nẵng.
         Sinh ngày 10.8.1957 
         Quê quán Thôn An Trạch xã Hòa Tiến huyện Hào Vang TP Đà Nẵng.
       Sau thời gian lâm bệnh nặng đã từ trần lúc 15h40 ngày 2.12.2009 tại nhà riêng tổ 21 phường Khuê Trung quận Cẩm lệ TP Đà Nẵng. Hưởng dương: 53 tuổi.
Lễ viếng bắt đầu từ 8h ngày 4 tháng 12 năm 2009 tại tư gia. Lễ truy điệu và di quan lúc 11h30 ngày 6.12.2009. An táng cùng ngày tại nghĩa trang gia tộc xã Hòa Tiến huyện Hòa Vang TP Đà Nẵng.
 
___________________________________
 

          Chiều nay   từ nhà Đặng Ngọc Khoa anh Trần Hân điện thông báo Đặng Ngọc Khoa ra đi lúc 15h45.

          Đặng Ngọc Khoa không đau đớn nhiều trước lúc ra đi. Anh Hân cũng bảo lúc Đặng Ngọc Khoa ra đi bạn bè quanh Đặng Ngọc Khoa cũng nhiều. Mình vội nhắn tin cho tất cả bạn bè biết để chia buồn.

          Đặng Ngọc Khoa phát hiện bệnh cách đây hơn hai tháng thứ nhất bệnh phát hiện muộn thứ hai bệnh tiến triển nhanh. Đặng Ngọc Khoa mới nhập viện được hơn 10 ngày. 21h tối qua Đặng Ngọc Khoa được đưa về nhà với tiên liệu xấu. Và chiều nay Đặng Ngọc Khoa ra đi lúc 15h45.

         Cho đến bây giờ vẫn chưa có thông tin chính thức về việc tổ chức lễ tang cho anh Đặng Ngọc Khoa nên gia đình và bạn bè chưa thông báo rộng rãi cho mọi người được.

          Qua trang blog này xin chia buồn cùng gia đình anh Đặng Ngọc Khoa !   

 


 

        

More...

BUỔI SÁNG CÙ LAO CHÀM

By Chủ bút: Võ Kim Ngân

 

      Kỳ họp lần thứ 21 của Ủy ban Điều phối Quốc tế chương trình Con người và Sinh quyển (MAB) tại Jeju (Hàn Quốc) ngày 26-5 đã đưa Cù Lao Chàm (Hội An Quảng Nam) và Mũi Cà Mau của VN vào danh sách các khu dự trữ sinh quyển thế giới (kdtsqTG).

           Cù Lao Chàm là một quần gồm 8 đảo lớn nhỏ nằm trên khu vực biển có diện tích 15 km2 thuộc xã đảo Tân Hiệp (TP Hội An - Quảng Nam) phân bổ theo hình cánh cung cách Hội An 19 km. Cù Lao Chàm có trên 1.500ha rừng tự nhiên và 6.700ha mặt nước được đánh giá là nơi có sự đa dạng sinh học hiếm có trên thế giới. Trong đó đảo lớn nhất là Hòn Lao với khoảng 3.000 ngư dân sinh sống bằng nghề đánh bắt hải sản. tập trung chủ yếu ở Bãi Làng và Bãi Hương

        Cù Lao Chàm sở hữu rặng san hô rộng 165 ha gồm 188 loài 61 giống thuộc 13 họ khác nhau. Khu vực này có hơn 200 loài cá xuất hiện trong 500 ha rong biển tảo cỏ  biển… Ngoài ra sự phong phú của rặng san hô các thảm cỏ biển rong biển là môi trường sinh sống phát triển lý tưởng của các sinh vật đáy như thân mềm giáp xác da gai giun… với mật độ dày đặc.

Không chỉ “giàu có” về các sinh vật biển quần thể động thực vật trên cạn của Cù Lao Chàm cũng rất có giá trị. Xã đảo này có nhiều loài cây quý hàng trăm năm như tuế vông nem và là nơi có độ bao phủ của thảm thực vật lớn. Điều kiện này cũng giúp các loài động vật phát triển trong đó có 12 loài thú 13 loài chim 130 loài bò sát và 5 loài lưỡng cư. Hai trong số đó có tên trong Sách đỏ Việt Nam là chim yến và khỉ đuôi dài.

Cù Lao Chàm - Hội An còn là một quần thể văn hóa nơi còn nhiều di tích của các nền văn hóa Sa Huỳnh Champa và Đại Việt. Từ hơn 3.000 năm trước nơi đây đã có người sinh sống và trong lịch sử đay đã từng là một thương cảng nức tiếng là nơi neo đậu của các thuyền buôn quốc tế trong hành trình giao thương trên biển.

Xin giới thiệu một vài hình ảnh Cù Lao Chàm vào một buổi sáng:

 Bình minh trên con đường làng xóm mới Bãi Làng.

   Trướcđây người dân Cù lao Chàm chỉ sống tập trung quanh conđườngg chạy quanh bờ biển trong những ngôi nhà chật chội cũ kỹ. Những năm gần đây chính quyền làm đường mới san ủi khu đất gần núi để người dân có điều kiện tách hộ xây nhà mới. Xóm mới hình thnàhh khang trang.

 

 Nhộn nhịp Bãi Làng buổi sớm.

Buổi sáng là thời điểm nhộn nhịp nhất ở vùng đảo này. Mọi sinh hoạt của người dân tấp nập nơi bờ biển Bãi Làng. Đó cũng là nơi tập trung thuyền đánh cá của các ngư dân trở về. Nơi hầu như tập trung các quán xá ở CLC bán cà phê bún mì quảng xôi sữa...đồ ăn sáng...

 Tầu đánh cá vừa cập bến.

 Cá vừa đánh bắt xong được bày bán ngay tại Bãi Làng.

Cá ở Cù Lao Chàm buổi sáng tươi óng rất ngon và giá thì rất rẻ so với đất liền.

 Chợ Cù lao Chàm.

Chợ nằm ngay tại Bãi Làng và họp chợ rất sớm. Đây là nơi bày bán trao đổi mọi nhu yếu phẩm cho người dân trên đảo.Đặc biệt từ cuối tháng 5 đầu tháng 6/2009 người dân trênđảo hoàn toàn không sử dụng bao nilonđể đi chợ hoặc gói đồ ăn nhằm giữ gìn môi trường cho Cù Lao Chàm.

Một góc âu thuyền Cù lao Chàm.

 

Âu thuyền này đực xây dựng vào những năm 90 là nơi tàu thuyền neo đậu tránh bão trong mùa mưa gió.

 

Một góc Bãi Hương Cù lao Chàm.

 

Ngoài Bãi Làng Bãi Hương cũng là nơi tập trung dân sinh sống ở Cù Lao Chàm. Dân cư ở Bãi Hương ít hơn ở Bãi Làng và người dân ở đây chủ yếu sống bằng nghề chài lưới.

 Cầu cảng bãi Hương

 Cầu cảng Bãi Hương mới  được khởi công  vào cuối năm 2008   với tổng kinh phí 6 tỉ đồng.

Cầu cảng này hoàn thành sẽ giúp cho khách du lịch có điều kiện đến tham quan Bãi Hương nhiều hơn. Và giúp người dân Bãi Hương cải thiện đời sống tăng thu nhập từ dịch vụ du lịch..

Du khách lặn biển xem san hô.

 

Dưới đáy biển quanh các hòn đảo Cù Lao chàm có những rặng san hô tuyệt đẹp. Chính quyền nơi đây đã khoanh vùng bảo vệ và cho du khách  tham quan lặn biển một số nơi. Đây là một thú vui mà không khách du lịch nào ra đảo CLC bỏ qua được.

Hoàng hôn trên biển nhìn từ Bãi Ông.

 

 CLC có rất nhiều bãi tắmđẹp nước biển trong vắt sóng êm bãi cát sạch và mát mẻ là nơi tắm biển nghỉ ngơi rất lý tưởng như Bãi Chồng Bãi Ông...Buổi tối sáng trăng bờ biển những nơi này thật hoang dã và thơ mộng với lấp loáng ánh trăng trên mặt biển   những ánh đèn của tàu đánh cá lấp lánh ngoài khơi như ánh sao xa...Sau lưng là rừng cây xanh thẫm rì rào...Những rặng dừa tĩnh mịch đu đưa...

Hoa muống biển trên đảo Cù Lao Chàm.

 

Buổi sáng trong veo ấy tôi bắt gặp chùm hoa muống biển trên bãi biển Cù lao Chàm và  lòng tôi tràn ngập cảm giác bình yên.

More...

Kim Ngân gửi Ảnh khai tạm vắng

By Chủ bút: Võ Kim Ngân



VKN: N. vừa đi Thái Lan về. C
huyến đi chỉ có 4 ngày thôi từ 19 đến 23/8. Đi ôtô từ Đà Nẵng theo tuyến đường Hành lang kinh tế Đông Tây qua cửa khẩu Lao Bảo và cửa khẩu Mukdahan (Thái Lan) mất một ngày đi đường tham quan một số nơi ở vùng Đông bắc Thái Lan một ngày sau đó bay về Băng Cốc ở đó 2 ngày. Từ đó bay về VN. Đi liên tục nên rất mệt tham quan được nhiều điểm nhiều nơi nhưng chẳng thưởng thức được nhiều. Tất cả chớp nhoáng vất vả. Gọi là đi công tác thì đúng hơn. Về đến nhà lại công việc của VP. Rồi phải tập trung viết cái luận văn nữa nên chẳng có thời gian dành cho blog. Vậy N. post mấy tấm ảnh này lên thay cho đơn khai báo tạm vắng. Hy vọng qua giai đoạn này N. sẽ tham gia lại tích cực hơn. Mong bạn bè thông cảm với N. nhiều.

More...