Xuân qua đã hơn nửa tháng, hoa xuân trong ảnh vẫn chưa tàn. Hôm nay mới rảnh đưa ảnh hoa lên cho vui cửa vui nhà.
Hoa thường được coi là thứ mong manh, cần được nâng niu, che chắn " Nâng như nâng trứng hứng như hứng hoa". Năm nay đầu xuân miền Trung nắng gắt. những chậu hoa tết được dịp phơi nắng và chứng tỏ sự can trường của mình, bất chấp nắng nóng vẫn khoe sắc đầy kiêu hãnh.
Hoa đào chụp ở Hội an hôm 28 tết. Hoa đào nở trong sắc trời xanh ngắt. Không héo mà rất tươi.
Hoa cúc bạt ngàn làm xuân rộn ràng và nắng tươi hơn.
Thược dược nở kiên trì dưới nắng xuân.
Xe đạp núp nắng dưới hoa.
Hoa hồng cực đẹp mà chụp ảnh lại không đẹp do nắng quá không dám phơi nắng ngắm nghía lâu, thêm ông chủ bán hoa cứ sợ chạm vào hoa.
Mặc cho nắng nóng hoa vẫn rất tươi. Hình như hoa ở miền Trung cũng như con người miền Trung, bất chấp mọi thời tiết, bất chấp mọi thử thách để là hoa thì phải tươi, là người thì phải mạnh mẽ và là chính mình-không thể nào khác được !
Khiếu Thị Hoài là dâu Hội An và Hoài coi Hội An như quê hương thứ hai của mình. Hoài tâm sự. càng ngày Hoài càng khám phá ra những vẻ đẹp bất ngờ sâu lắng từ Hội An - một không gian văn hóa không chiều kích. Hoài đã có nhiều bài viết hay và sâu sắc về những nét đẹp của Hội An mà những người chỉ đến rồi đi hay những người sống quá lâu chưa chắc đã nhận ra, vì đôi khi đó chỉ là những điều rất bình thường trong sinh hoạt hàng ngày. " Bến đò Hội An" là một trong những cảm xúc đẹp của Hoài về Hội An.
Bến đò Hội
An
Khiếu Thị
Hoài
Đã có bao nhiêu mùa xuân về bên bến đò Hội
An? Làm sao ta có thể nhớ được nhưng đến hẹn lại lên, năm nào mùa xuân cũng về
bến đò phố Hội sớm hơn với đủ sắc màu xanh, đỏ,vàng, hồng, cam, trắng, tím... và những thanh âm rộn rịp xôn xao. (Xem tiếp)
Có thể nói rằng
, trong thơ ca hiện đại Việt Nam,
ít có nhà thơ nào đưa hình ảnh quê hương vào thơ ca của mình một cách tha
thiết, đau đáu như Chế Lan Viên. Suốt nhiều trang viết, cả văn cũng như thơ,
đất và người Quảng Trị thường xuyên đi và về trong các sáng tác của Chế Lan
Viên, làm nên một không gian nghệ thuật đặc sắc.
Đà Lạt chẳng xa lạ với nhiều người. Và có lẽ với nhiều người Đà lạt trở
thành thân quen đến mức không còn ngạc nhiên về Đà Lạt. Mình may mắn
hơn nhiều. Lần đầu tiên đến Đà lạt và Đà Lạt cho mình bao nhiêu thứ và
từ ngạc nhiên, ngỡ ngàng, yêu mến, tiếc nuối khi rời xa...
Trong thơ ca, màu sắc được vận dụng như một cách phối màu để
diễn tả tâm trạng phức tạp của tình cảm. Tuy nhiên những bài viết tìm hiểu và
phân tích về mà sắc trong thơ ca chưa nhiều. " Màu tím trong thơ ca"của
tác giả Huỳnh Văn Hoalà một trong những bài viết ít ỏi về đề tài
này. Tác giả đã công phu tìm tòi, khảo sát và phân tích cách sử dụng màu
sắc trong thơ ca Việt Nam trong thơ ca trung đại đến thơ hiện đại. Từ đó phát
hiện ra những vấn đề thú vị của sắc tím trong thơ ca Việt Nam. Xin trân
trọng giới thiệu.
MÀUTÍMTRONGTHƠCA
HUỲNHVĂNHOA*
Màu sắc là một phương diện của cái nhìn nghệ thuật trong
văn chương, làm nên thế giới nghệ thuật của một nghệ sĩ . Những nghệ sĩ có
phong cách thường có kiểu sử dụng màu sắc theo một cách riêng, làm nên nét dộc
đáo của tác phẩm, của tác giả.
Bài viết này, sẽ tìm đến nghệ thuật sử dụng màu tím trong
thơ ca của số nhà thơ quen thuộc của Việt Nam.
Về phương diện hội họa, màu tím là sự pha trộn và hợp thành
của màu xanh và màu đỏ. Tím là màu sắc thiên về các khía cạnh của nội tâm,
không thích phô trương, tìm đến những ngõ ngách riêng tư của con người, diễn
đạt những khung trời nhớ nhung, xa vắng, lẫn khuất đâu đó là những hoài niệm,
hoài cảm.
Màu tím của hoa sim, hoa mua, hoa bằng lăng, hoa lục bình,
hoa xoan,hoa súng,…đã đi vào thơ ca với những sắc điệu riêng của tâm hồn, với
nhiều cách nhìn phong phú, đa dạng, độc đáo. Không ít bài thơ, câu thơ đã nhờ
màu tím mà tồn tại với thời gian.
Màu tím là một gam màu ít được các nhà thơ cổ điển Việt Nam
dùng.
Trong Cung oán ngâm
khúc, Nguyễn Gia Thiều sử dụng có một lần màu tía ( Muôn hồng nghìn tía đua
tươi ), ông không dùng màu tím.
Chinh phụ ngâm ,
“ tác phẩm do hương cống Đặng Trần Côn
soạn, nhân đầu đời Cảnh Hưng việc binh đao nổidậy, người đi chinh thú phải lìa nhà, ông cảm thời thế mà làm ra “
( Phan Huy Chú-Lịch triều hiến chương
loại chí ), với 408 câu, có màu xanh, màu trắng, màu vàng, màu hồng và chỉ
một lần nói đến màu tía ( Trước gió xuân vàng tía sánh nhau ), lấy
tích từ “ cành Diêu đóa Ngụy, hai giống hoa mẫu đơn quí một của họ Diêu màu
vàng và một của họ Ngụy màu đỏ tía ( Những
khúc ngâm chọn lọc, NXB ĐH và THCN, HN, 1987, trang 55 ). Màu tía là màu đỏ
thắm. Tía, theo Đào Duy Anh, là “
sắc đỏ thắm “ ( Tự điển Truyện Kiều, trang 363 ). Đặng Trần Côn vẫn không đưa
màu tím vào thơ.
Trong Truyện Kiều,
với 3254 câu , Nguyễn Du chưa một lần
dùng đến màu tím.
Những điểm nêu trên là điều khá lạ lùng về tư duy nghệ
thuật của văn học trung đại, về phát triển của ngôn ngữ tiếng Việt. Trái lại,
trong thơ hiện đại, nhiều nhà thơ sử dụng khá quen thuộc màu tím, thậm chí gắn
liền tên tuổi của mình với sắc màu này.
Nguyễn Bính có nhiều bài thơ hay viết về Huế. Đó là những
bài : Giời mưa ở Huế, Vài nét Huế, Xóm
Ngự viên, Thu rơi từng cánh. Tập Mười
hai bến nước, còn có số bài thơviết vào lúc thi sĩ ở Huế, như Hoa
với Rượu, Xuân tha hương, Lửa đò,…
Trong sốđó,
Màu tím Huế là bài thơ phản ánh nhiều cung bậc của Huế. Màu tím là màu có
tính đặc trưng của Huế. Đây không phải là điều ngẫu nhiên. Huế vốn nằm gần với
Trường Sơn. Về mặt tự nhiên, nói như Xuân Diệu, khi “ngày chưa dứt hẳn” thì
bóng chiều đã bắt đầu buông xuống. Giao thoa giữa hai thứ ánh sáng ấy, màu đỏ
của hoàng hôn và màu sẩm của buổi chiều, đã tạo nên sắc tím đặc biệt của xứ
Huế. Không gian chiều của xứ Huế là không gian của màu tím, nó không giống với
bất cứ nơi nào trên nước ta, vì thế, người Huế yêu màu tím. Màu tím đi vào văn
chương nghệ thuật của xứ thần kinh là vậy. Nguyễn Bính là người nhận ra nét tím
của Huế:
Thôi thế là em cách biệt rồi
Đường đi mỗi bước một xa xôi
Tim tím rừng chiều tim tím núi
Tim tím chiều hôm, tim tím mai…
Màu tím nhuộm núi rừng , nhuộm chiều hôm, nhuộm ban mai,
nhuộm nhớ mong, nhuộm lên trang giấy tình thư, nhuộm lên nét thương đau của nhớ
nhung, của cát bụi kiếp người.
Hai câu kết, vẫn màu tím ấy, cả rừng, cả núi, cả chiều hôm
, tím một màu tím Huế rất Nguyễn Bính..
Hữu Loan nổi tiếng với bài thơ Màu tím hoa sim. Bài thơ đứng vững hơn nửa thế kỷ, trở thành một
trong những bài thơ tình hay nhất trong thơ ca Việt Nam hiện đại. Màu tím hoa
sim là tiếng lòng của anh Vệ quốc quân đối với cái chết của người vợ trẻ.
Nguyên mẫu cuộc đời đã trở thành nhân vật nghệ thuật, thành thơ ca, thành âm
nhạc. Có thể nói không ngoa rằng, nếu bài thơ ấy, tác giả không chọn gam màu
chủ đạo là màu tím thì chắc gì đem lại sự rung cảm trong tâm hồn tác giả và
người đọc.
Quả vậy, từ chỗ:
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
Áo nàng màu tím hoa sim…
Cho đến những chiều mưa trên chiến
trường Đông Bắc, nơi ba người anh “ biết
tin em gái mất, trước tin em lấy chồng” và “ đứa em nhỏ lớn lên, ngỡ ngàng nhìn ảnh chị “ , với“ gió
sớm thu về gờn gợn nước sông “,với
“ cỏ vàng chân mộ chí ”,… là bao nỗi
niềm thương nhớ khôn nguôi của người chiến sĩ-thi sĩ :
Chiều hành quân
Qua những đồi sim
Những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
Tím chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa…
Kiên Giang với bài thơ dài Hoa trắng thôi cài trên áo tím, 15 khổ, được nhiều người đọc yêu
thích. Bài thơ kể về mối tình học trò. Ngày trước, ngôi trường người con trai
theo học đối diện với ngôi giáo đường của người con gái thường đi lễ nhà thờ.
Chuông nhạc đạo và chuông nhà trường hòa lẫn, khiến người con trai “làm thơ sầu mộng”, thầm muốn“ để
nghe khe khẽ lời em nguyện-thơ thẩn chờ em trước thánh đường”:
Mười năm trước
, em còn đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím
Em là cô gái tuổi băng trinh…
Mỗi lần tan lễ hồi chuông đổ
Hai bóng cùng đi một lối về
E lệ, em cầu kinh nho nhỏ
Thẹn thùng, anh đứng lại không
đi…
Thế rồi , một ngày kia, em theo chồng
:“ Rộn rã từng hồi chuông xóm đạo, Tiễn
nàng áo tímbước vu quy.Dầu vậy,
người con trai của mười năm trước : “ Anh
vẫn yêu em người áo tím, Nên tình thơ ủ kín trong lòng. Chiến tranh, loạn
lac, tình thơ cũng nhạt màu, nhưng than ôi, cũng chiếc xe hoa ngày ấy:
Ba năm sau chiếc xe hoa cũ
Chở áo tím về trong áo quan
Chuông đạo ngân vang hồi vĩnh biệt
Khi anh ngồi kết vòng hoa tang…
Vòng hoa trắng lạnh đó gửi cho người con gái áo tím, với
ân tình ngày cũ , dù đã phôi pha nhưng trắng trong, tinh khiết, đẹp như một bài
thơ buồn.
Kiên Giang là bạn thơ của Nguyễn Binh trong những năm
kháng chiến chống Pháp tại Nam Bộ. Trong nhiều bài thơ của ông, người đời nhớ
và yêu nhất bài thơ dung dị này. Cũng màu tím ấy, vậy mà, với cái nhìn cá thể, một nhà thơ
đã để lại trong gia tài văn chương dân tộc những bài thơ độc đáo, lưu giữ mãi
với thời gian. Đó là Chế Lan Viên .
Cả tập Điêu tàn,
màu sắc chủ đạo vẫn là màu trắng và màu đen. Điều này có lý do của nó về quan
niệm thẩm mỹ. Sau Cách mạng tháng Tám, như nhà thơ đã nhiều lần phát biểu, ông
đã đi từ “ chân trời một người đến với
chân trời tất cả “, đi từ “ câu hỏi
hư vô, thổi nghìn nến tắt ” để
đến “ bàn tay người thắp lại triệu chồi
xanh “. Bên cạnh một Chế Lan Viên triết luận, bàn về những vấn đề nóng hổi
của thời đại và dân tộc, còn là một Chế Lan Viên của đời thường, của tâm hồn
dân dã, gắn chặt với máu thịt cuộc sống. Màu sắc trong thơ ông là một con đường
riêng, riêng mà lại chẳng riêng chút nào, gây xúc động lòng người một cách sâu
lắng. Chế Lan Viên hay nói đến màu tím, đó là màu hoa của Hồ Tây mà nhiều lần
thi sĩ tìm đến. Trong bài Hoa súng tím,
Chế Lan Viên viết:
Từ lúc mê súng tím
Mới hiểu hết sen
hồng
Càng biết yêu mùa
hạ Dâng
màu sắc song song…
Vẫn
là cách so sánh của lòng yêu hoa, mê hoa. “ Mê súng tím “ tức là yêumột loài hoa bình dị, không kiêu sa, lặng lẽ
nơi ao đầm quê ta. Tháng năm qua, loài hoa gắn với làng quê Việt ấy, trong một
lần bừng thức, lòng hiểu thêm sen hồng, cũng một loài hoa thôn dã, “ gần bùn mà
chẳng hôi tanh mùi bùn “, hai thứ hoa có chung một tấm lòng, một trắng trong,
dâng hiến cho đời. Chẳng thế mà nhà thơ mới viết: Dâng sắc màu song song một cách trang trọng, thâm tình. Yêu hoa để
yêu đời, hiểu hoa để hiểu đời là vậy !
Cũng
tên là Hoa súng tím, viết vào thời điểm của cơn đau thì lại thê
thiết hơn. Bài thơ này in trong tập Hoa
trên đá, NXB Văn học, 1884, trước lúc mất vài năm:
Mỗi lần đau , anh
lại đến Tây Hồ
Chữa lành anh là hoa súng tím
Hồ đầy hoa
, nhụy vàng hương kín, vậy mà, “ cả một
mùa qua hoa nở chả ai hay,… ngoài chú vịt trời xao xuyến “ . Không sao, còn
có nhà thơ yêu hoa, “suốt cả một ngày lưu
luyến”bên hoa. Bài thơ như một tâm
sự, như một giãi bày, muốn tìm tri âm, chia sẻ. Dường như là, vào những năm
cuối đời, qua bao nỗi thăng trầm của thế sự, qua bao biến chuyển của cuộc đời,
Chế Lan Viên nhận ra rằng, nhiều cái bình dị quanh ta, ta bỏ quên, như hoa súng
tím khiêm nhường kia :
Hoa súng tím An Giang, hoa súng trắng Tây Hồ
Những cành hoa chưa ai làm thơ
cả
Tuổi 64, tôi mới biết màu hoa dân dã
Biết hoa rồi, tôi đã sáu mươi tư
.
( Hoa súng An Giang )
Một
chỗ khác, trước khi mất hai năm, như để cho người đời sau hiểu thêm mình, hiểu
thêm những nỗi niềm sâu kín, riêng tư của mình, cũng là sự mong đợi, gửi gắm,
nhà thơ viết :
Màu hoa súng ấy như cơn đau không dám
khóc
Chỉ lặng im sắc tím để mà đau
Người ta chỉ biết màu
sen anh đỏ rực
Còn nỗi buồn hoa súng tím biết cho đâu .
( Hoa súng , 1887 )
Xét đến cùng, cái
màu tím kia trong những bài thơ ngắn của Chế Lan Viên là một góc khuất hết sức
nhân văn, tìm về sự yên tĩnh của tâm hồn sau bao sóng gió của cuộc đời, cập đến
bến bờ của thức ngộ. Dường như là, đằng sau của“ nỗi buồn hoa súng tím
“ ấy, Chế Lan Viên muốn gửi gắm cho đời một thông điệp, rằng, bên cạnh một Chế
Lan Viên chính luận, còn một mặt nữa của tháp Bayon, mặt ấy - nhà thơ đau đáu
bao nỗi niềm, bao tâm sự, cả những điều chưa biết giãi bày cùng ai ! Có lúc
cũng ngậm ngùi khôn xiết !
Cao
Vũ Huy Miên có bài thơ Hoa tím ngày xưa,
được Hữu Xuân phổ nhạc, nhiều ca sĩ hát và công chúng yêu thích. Đây là bài thơ
tình nói về con đường của người bạn gái trong tuổi học trò thường đi về, làm
nên cảm xúc thơ ca cho chàng trai:
Con đường em về ban
trưa
Hoa tím nghiêng
nghiêng đợi chờ
Tuổi em vừa
tròn mười bảy
Tóc em vừa chấm ngang
vai.
Cũng
con đường đó, em về mưa bay, em về thơm
hương, tiếng dương cầm rơi nơi đâu , lặng lẽ. Và rồi, tuổi 17của em qua đi, qua đi chẳng biết bao giờ, để
rồi :
Trường xưa chẳng còn
học nữa…
Con đường em về năm
xưa
Có biết hay chăng bây giờ
Hoa tím thôi không
còn nữa
Chỉ còn ta đứng dưới
mưa.
Bài
thơ ngắn, dung dị, dễ thương của một thời vụng dại. Chắc là, hoa tím vẫn còn
nơi con đường ngày cũ, chỉ có điều , con đường xưa ấy, người của một thời không
qua nữa, nên“ hoa tím thôi không còn nữa, chỉ cònta đứng dưới mưa“.
Nguyễn
Sĩ Đại có bài thơ Mực tím viết theo
thể thơ lục bát ,cũng là một bài thơ đáng yêu, viết cho tuổi học trò ở thời
điểm sắp rời ghế nhà trường phổ thông:
Bây giờ mực tím thôi
vương
Mùa thi đã vãn, sân trường vắng hiu
Tiếng ve kêu sốt nắng chiều
Cuốnlưu niệm cũ, chữ xiêu xiêu
buồn…
Bây giờ mực tím thôi
vương
“ Bậu về xứ bậu”, lời thương không đành
Bây giờ …
Thôi xếp
áo khăn
Gửi hồn mực tím trên cành bằng lăng .
Bài
thơ ngắn chỉ 8 câu, có hai lần nói đến “mực
tím thôi vương” và ba lần nhấn mạnh đến “bây giờ”. Mỗi lần mỗi khác. Lần sau, mượn câu ca dao : “Rồi mùa tóoc rã, rơm khô/ Bậu về xứ bậu biết
nơi mô mà tìm” để bày tỏ nỗi niềm nuối tiếc, bâng khuâng, Tuổi học trò thời
nào mà không có những phút giây xao xuyến ấy !
Màu
tím vương vương nơi nhiều bài thơ. Đoàn Phú Tứ có : Màu thời gian không xanh/ Màu thời gian tím ngát (Màu thời gian ), Anh Thơ, trong Chiều xuân, đã viết: Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng/ Bên
chòm xoan, hoa tím rụng tơi bời .Tố Hữu, với bài thơ Hoa tím, tặng Nguyễn Tuân, có câu: Thủy chung tình bạn chùm hoa tím. Hoàng Phủ Ngọc Tường với Dù năm dù tháng, được Nguyễn Công Dinh
phổ nhạc với tên Cành phù dung cho em, có những câu:
Anh ngắt cành
phù dung trắng
Tặng em niềm vui
cầm tay
Màu hoa như màu tia
nắng
Buổi chiều chợt tím
không hay…
Phan Vũ trong Em
ơi ! Hà Nội phố, Phú Quang phổ nhạc, là một Hà Nội của mùi hoàng lan, mùi
hoa sữa, của “chiếc khăn quàng tím đỏ
thoáng qua”, của những “con đường
vắng, rì rào cơn mưa nhỏ”, của “tan
lễ chiều, kinh cầu còn mãi ngân nga” và nữa:Ta còn em
cô hàng hoa
Gánh mùa thu qua
cổng chợ
Những chùm hoa tím
Ngát mùa thu…
Hoàng
Nhuận Cầm cũng có những câu thơ hay về mùa thu và hoa tím:
Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến
Chỉ tiếc mùa thu
vừa mới đi rồi
Còn sót lại trên bàn bông
cúc tím
Bốn cánh tàn, ba
cánh sắp sửa rơi !
( Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến )
Hữu Thỉnh với Biển,
nỗi nhớ và em , có câu thơ thật hay:
Em đâu phải là
chiều
Mà nhuộm anh đến
tím…
Ngô Văn Phú với Trời
đã vào thu…, khi sông không đầy nước, khi mây làm khăn quàng qua vai núi ,
thì cũng là lúc:
Đôi bờ lau lách đìu hiu tím
Gom buồn lên ngọn
gió heo may…
Có thể kể ra nhiều bài thơ, câu thơ có chứa màu tím.
Cái màu tím ấy đã đem lại cho thơ ca tiếng Việt một sắc thái riêng, một nẻo về
riêng của tâm hồn vớibao xao xuyến,
bao tâm trạngnơi người đọc, góp phần
làm nên những tác phẩm hay trong văn chương Việt Nam.
Yêu em anh như trẻ thơ
Chuyện nhỏ thôi đã hờn đã giận
Em xa xôi lòng anh trĩu nặng
Em nói đùa mà tim anh đau...
Những ngày xa rời rạc câu
thơ
Anh nhớ em mọi nơi mọi lúc
Cả khi anh bên ngoài phàm tục
Vẫn không ngoài nỗi thương em.
Nhớ mắt em cười nhớ môi em
hát
Nhớ dáng em ngồi nhớ bước em đi
Nhớ gót em đau anh loay hoay thuốc
Nhớ bữa em về không nói năng chi.
Anh yêu em mà sao cách xa
Tin nhắn hiện hình mà em vời vợi
Điện thoại thăm nhau nói năng vồi vội
Những lúc hết ngày trời sắp sang đêm.
Này người dưng yêu dấu của
anh
Sao không thích hát lời anh hát?
Sao em chợt đôi khi lạnh nhạt
Giữa đám đông lặng lẽ bè trầm?
Ngày dần qua và đêm sẽ
trôi
Em chẳng riêng anh niềm âu yếm
Như nắng chiều anh hoài bịn rịn
Ánh sáng một thời đã xa?
Đã đôi lần anh nổi cơn
điên
Xóa tất cả đa mang tất cả
Sẽ trong em anh thành người xa lạ
Lang thang tìm chốn bình yên.
Đã đôi khi anh muốn bão
giông
Cuốn em về phương trời khác
Anh đánh đàn và em ngồi hát
Thiên hạ buồn, đua nhau làm thơ.
Anh
yêu em, yêu em, yêu em!
Trong mơ một mình thầm thì anh nói
Anh tự đốt mình thành khói
Tàn tro bay lả tả hồn.
Mộng du buồn chỉ một cơn mơ
Chập chùng quãng đời anh còn lại
Phía không em anh nhìn xa ngái
Giọt lệ nào rớt phía không anh?...
Thoát
Bão
Như ngọn gió đơn
độc
Thoát khỏi tâm bão
Anh lang thang
Dưới trời đêm
Kiệt sức
Đến giờ
Lệ còn ứa mắt ai
Làm sao thoát
Cám dỗ ngôi nhà xây dở
Đổ sập trong xoáy lốc
Mất hút
Mất hút em...
Làm sao thoát
Những cơn đau
Không màu
Không vị
Những trường gió
Nhiệt đới nóng
Nghịch chiều
Cũng chẳng dễ thoát
Những cơn mơ ngoài cơn mơ Những cơn bão ngoài cơn bão
Ngổn ngang
Làm sao anh thoát khỏi chính mình
Thoát bão,
Ừ thì thoát bão
Cuồn cuộn
Quay về Anh nhặt nhạnh chính anh...
Cho Một Ngày Buồn
Anh cô đơn
như một cột buồm
kiêu hãnh
Trong lặng im
biển gầm gào điên loạn những luồng gió táp mặt người mặt sóng
bãi bờ xa tít khói bếp quạnh hiu
Nơi ấy ngọn lửa vợ anh vừa nhen
đột ngột dập tắt bởi dòng tin trắng
Nơi ấy mẹ anh chặm nước mắt
rớt rơi chấp chới ngắn dài
Nơi ấy, những khúc nhân tình
tên anh không còn đọc thấy
Những câu thơ
mảnh
sắc
lầm lì
cứa vào cơn mơ góa bụa
Nơi ấy, mùa thiếu nữ vời vợi
năm cửa ô mưa bụi
đêm Hà Nội chòng chành trở gió
câu thơ rét run túi áo
viên kẹo nào ấm môi con...
Như một cột buồm, anh quá cô đơn
ngước nhìn bầu trời, vòm trời tối sẫm
đâu tiếng kêu vang vọng ngực chiều
đâu âm ba người đi ngược sóng
chỉ miên man biển dài khắc khoải
xoáy lốc cuồng phong đuổi nhau xô lệch
những áng mây rỉ buồn câu hát cũ
những dố khoan cũng liên hồi cũ
chỉ còn tiếng kèn đồng trong ký ức
rền vang trang thơ cũ
báo động mới toanh
về một ngày buồn...
Chỉ vài hôm nữa,
miền Trung không bão cũng mưa dầm, gió giật.
Cây cối rồi sẽ ngã nghiêng, tơi tả.
Tôi có lần nhìn một cái cây bị gió bão vặn ngược.
Đâu ngờ, có khi mình cũng như cây ấy
Chí ít trong thơ Hermann Hesse.
Cũng như ngươi Ta bị cuộc
đời vùi dập Nhưng
không gục ngã Hằng ngày
vẫn vươn mình Ngẩng cao
trong ánh mặt trời... Tấm lòng
ta mềm mại, tinh khôi Đã chết vì
cuộc đời thô bạo Nhưng tính
cách ta vẫn không đổi Ta vẫn vui
lòng, ta vẫn tha thứ Vẫn cho
đời những chiếc lá xanh tươi Vẫn cho
nứt hàng trăm chồi non mới. Dù bị đau
đớn quằn quại Ta vẫn yêu
thương trần gian điên dại này. Hermann Hesse
Quay Quắt Cà
Mau
Tặng anh Tô Thành Nhân - Cà Mau
Nơi ấy dấu chân tôi có còn in trên bờ kênh xáng
Mùi bùn thơm rủ rỉ gọi nhau về
Cà Mau Cà Mau
Gió chướng chạy rần rần khung trời xanh tái
Tôi căng mắt căng thân giấc mơ vỏ lãi
Vút chim bay chạm sóng Gành Hào
Chôn chân bên cầu thơm dưa hấu
Em chợ đời ám chướng u mê
Tôi trôi tôi chiều trôi cổ tích
An Tiêm thương một gã bên lề
Cà Mau Cà Mau
Đêm không ngủ bởi Cà Mau không ngủ
Khát sống như tôi cũng đến thế thôi mà
Nơi con cá quẫy vầng trăng cuối bãi
Em lang thang và tôi hoang mang
Có ai về đốt đuốc mùa sang
Ánh chớp đầu tiên, hy vọng cũ càng
Hai con cá thích nghi
Chết đuối ngày đáy vũng
Tuổi trẻ bao lăm vèo gió rụng
Lắng đất trở mình nghe khát khao thương
Đêm tối trời
kinh Nguyễn Văn Tiếp
Điên điển vàng ươm nồi cháo cua đồng
Niềm vui nở bên ngoài trái đất
Vỏ lải trượt chiếc quan tài độc mộc
Tôi suýt thành ma đi hoang
Tôi say khướt môi em mềm mướt
Chợt dịu dàng thảo khấu đôi tay
Những phận người khốn cùng thế giới
Thương nhau lang bạt giang hồ
Em bắt hụt bóng tôi giữa chợ
Năm Căn rùng rùng cá tôm bay
Chợt một ngày tôi xa biền biệt
Ký ức hằn những dấu chân khô
Cà Mau Cà Mau
Đừng quay quắt đừng yêu thương nhé
Mười mấy năm dài
Sóng Gành Hào còn dội ướt cơn mơ...
(Bài này post lên theo yêu cầu của anh Thuận Nghĩa)
“Đặng Ngọc Khoa đã được đưa về nhà, khó cầm cự nổi qua đêm nay và sáng
mai. Xin báo để bạn bè biết...”. Từ Đà Nẵng, tin này đến với chúng tôi
giữa khuya hôm Sài Gòn bận rộn với đủ dòng thời sự cuối ngày.
Cảm
xúc xót thương một đồng nghiệp, một cộng tác viên hết mình với nghiệp
dĩ, một người bạn thân tình bộc trực, nghĩa khí có lúc bị lấn át bởi
cái tất bật nghề nghiệp vào giờ cao điểm.
Chưa kịp tĩnh tâm để nghĩ về chuyến đi cuối cùng của bạn thì chiều qua, 2-12, điện thoại lại nhói lên bản tinthảng thốt: “Đặng Ngọc Khoa đã qua đời lúc 15 giờ 40 tại Đà Nẵng...”.
Vậy là Khoa đi
rồi sau những ngày chống chọi trong tuyệt vọng với căn bệnh hiểm ác.
Chuyến đi cuối cùng của một tâm hồn lạc quan thêm một lần nhắc nhở nỗi
bất lực của con người trước định mệnh khắc nghiệt: Có thể vượt qua đủ
thứ đắng cay chua xót của đời người bằng bản lĩnh, nghị lực và niềm tin
vào sự huyền diệu của cuộc sống nhưng con người không thể thắng được sự
lạnh lùng của cái chết.
Khoa đi rồi, thời
sự bão lụt vắng một cây bút luôn đau đáu với nỗi khổ của dân mình trước
thiên tai hằng năm rình rập, luôn tìm cách gõ vào mọi cánh cửa thông
tin để cung cấp càng sớm càng tốt, càng chi tiết bao nhiêu càng góp
phần giảm thiệt hại bấy nhiêu về diễn biến của mưa bão, lụt lội.
Không
thấy Khoa trong những tin báo về cơn bão số 11 và trận lụt dữ vừa rồi ở
miền Trung, nhiều người đã linh cảm chuyện chẳng lành. Đó là những ngày
chàng lãng tử tóc dài trở bệnh nặng.
Chỉ những cơn đau liên
hồi mới đủ sức ngăn cản Khoa ngồi trước trang viết bởi trước đó không
lâu, những bài báo ký tên anh vẫn đều đặn xuất hiện. Viết như chạy đua
với định mệnh khắc nghiệt, như thể Khoa biết mình chỉ được phép trò
chuyện với cuộc đời chẳng bao lâu nữa.
Khoa đi rồi, mái tóc bồng bềnh, ánh mắt hóm hỉnh, miệng cười hồn hậu, giọng nói oang oang chân chất Quảng Nam của một đồng nghiệp lăn xả hết mìnhcũng
theo về với cát bụi. Những bạn bè đồng môn của Khoa ở Trường THPT Phan
Chu Trinh Đà Nẵng mất đi một cái kho lưu giữ kỷ niệm thời học trò (Khoa
vẫn nhớ và đọc lại vanh vách từng câu thơ của bạn mìnhin trên đặc san trường hằng 35 năm trước).
Vắng
thật rồi những câu thơ ứng khẩu tài tình và độc đáo của Khoa trong
những buổi sinh hoạt cộng đồng, những chuyến dã ngoại về với buôn làng
trung du. Vắng thật rồi khát vọng của một Tấm thảm bay (tên một bài thơ
của Khoa) mang đến đời này những điều tốt đẹp. Ở cõi xa xăm mà Khoa vừa
tìm về, ai đó sẽ hát lên cùng Khoa câu thơ của một thời mộng mị “Em
cùng ta bay, bay, bay, bay...”
Nhà báo ĐẶNG NGỌC KHOA, phóng viên báo Thanh niên, Hội viên Hội nhà báo Việt Nam, Hội viên Hội nhà văn TP Đà Nẵng.
Sinh ngày 10.8.1957
Quê quán Thôn An Trạch, xã Hòa Tiến, huyện Hào Vang, TP Đà Nẵng.
Sau
thời gian lâm bệnh nặng đã từ trần lúc 15h40 ngày 2.12.2009 tại nhà
riêng , tổ 21 phường Khuê Trung, quận Cẩm lệ, TP Đà Nẵng. Hưởng dương:
53 tuổi.
Lễ viếng bắt đầu từ 8h ngày 4
tháng 12 năm 2009 tại tư gia. Lễ truy điệu và di quan lúc 11h30 ngày
6.12.2009. An táng cùng ngày tại nghĩa trang gia tộc, xã Hòa Tiến,
huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng.
___________________________________
Chiều nay, từ nhà Đặng Ngọc Khoa, anh Trần Hân điện thông báo Đặng Ngọc Khoa ra đi lúc 15h45.
Đặng Ngọc Khoa không đau đớn nhiều trước lúc ra đi. Anh Hân cũng bảo lúc Đặng Ngọc Khoa ra đi bạn bè quanh Đặng Ngọc Khoa cũng nhiều. Mình vội nhắn tin cho tất cả bạn bè biết để chia buồn.
Đặng Ngọc Khoa phát hiện bệnh cách đây hơn hai tháng, thứ nhất bệnh phát hiện muộn, thứ hai bệnh tiến triển nhanh. Đặng Ngọc Khoa mới nhập viện được hơn 10 ngày. 21h tối qua Đặng Ngọc Khoa được đưa về nhà với tiên liệu xấu. Và chiều nay Đặng Ngọc Khoa ra đi lúc 15h45.
Cho đến bây giờ vẫn chưa có thông tin chính thức về việc tổ chức lễ tang cho anh Đặng Ngọc Khoa nên gia đình và bạn bè chưa thông báo rộng rãi cho mọi người được.
Qua trang blog này xin chia buồn cùng gia đình anh Đặng Ngọc Khoa !